Quảng cáo 2

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào

Một trong những nhân tố làm nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào-Việt Nam, đó chính là tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai Đảng, hai Nhà nước và hai dân tộc trong những năm tháng chiến tranh trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay. 
Trước thế kỷ XX, cả hai dân tộc Việt-Lào đều trải qua hàng nghìn năm không ngừng chiến đấu giành và bảo vệ độc lập dân tộc để khẳng định sự tồn tại của mình với tư cách một dân tộc, một quốc gia độc lập. 

Từ đầu thế kỷ XX, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Việt Nam - Lào đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp, mặc dù chỉ dừng lại ở tính chất tự phát. Từ khi được chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, tình đoàn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục. 

Đón hài cốt quân tình nguyện Việt Nam về quê hương - Ảnh: PV

Những năm 1930 - 1939, các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Lào đã hỗ trợ lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển phong trào cách mạng mỗi nước; tiếp đến là giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền thắng lợi (1939 - 1945) và liên minh Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975). 


Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới, từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền. Đây là thời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào trở thành đảng cầm quyền ở mỗi nước. Cả hai nước càng có điều kiện phát huy truyền thống tốt đẹp đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác toàn diện về chính trị, quốc phòng -an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục... 

Ngày 18/7/1977, hai nước chính thức ký kết các hiệp ước: “Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”, “Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” và “Tuyên bố chung” đã tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước. Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước. 

Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng, hai Nhà nước đã cử trên 30 đoàn từ cấp trung ương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, dân vận. Quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả. 

Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên soạn công trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam từ 1930- 2007” nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam lên một tầm cao mới. 

Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào- Việt Nam quý báu và thiêng liêng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ: “Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/Việt - Lào, hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”. Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: “Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam”; “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”. 

Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị với hai tỉnh Savannakhet, Salavan của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng không ngoài truyền thống quý báu đó. 

Cùng chung một chiến hào chống kẻ thù chung, trong gian khổ, hy sinh, tình đoàn kết chiến đấu giữa Quảng Trị và hai tỉnh bạn Lào luôn keo sơn, gắn bó. Với tinh thần “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, quân dân Quảng Trị cùng bạn chiến đấu anh dũng, kiên cường, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. 

Về phía bạn, bằng tấm lòng chân thật, ngay thẳng, thủy chung, trong sáng, Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh đã cưu mang, giúp đỡ Quảng Trị lúc khó khăn, hiểm nguy nhất. Biên giới bạn phía tây trở thành căn cứ cho bộ đội, cán bộ, nhân dân Quảng Trị bảo toàn và phát triển lực lượng. Tỉnh ủy Quảng Trị lúc nguy nan cũng tạm lánh qua Lào, rồi từ đó đề ra những quyết sách quan trọng, làm biến chuyển tình thế cách mạng tại địa phương. 

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, nhất là từ khi tỉnh nhà lập lại, mặc dù còn nhiều khó khăn Quảng Trị vẫn không ngừng tăng cường sự hợp tác, giúp đỡ hai tỉnh bạn trên nhiều lĩnh vực; đã cùng hợp tác với bạn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, trường học, bệnh viện; đào tạo nhân lực trên lĩnh vực giáo dục, y tế; cung cấp con giống, cây trồng, đầu tư khoa học kỹ thuật. 

Cùng chung tuyến hành lang kinh tế Đông-Tây, hai bên hợp tác xây dựng, nâng cấp cửa khẩu quốc tế, mở rộng giao thương, buôn bán. Trên nhiều cấp độ, Quảng Trị đã có những hoạt động trao đổi kinh nghiệm, lý luận và thực tiễn với hai tỉnh bạn, góp phần vào quá trình xây dựng và phát triển lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của mỗi nước. 

Hai tỉnh bạn cũng tạo điều kiện, giúp đỡ Quảng Trị trong việc tìm kiếm, cất bốc hài cốt liệt sĩ. Nhân dân ba tỉnh ngày càng thắt chặt mối quan hệ, qua lại làm ăn, thăm viếng, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, khó khăn, cùng đấu tranh giữ vững an ninh biên giới. Trải qua bao thử thách khắc nghiệt, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt của hai nước, hai dân tộc Việt-Lào nói chung, giữa Quảng Trị với Savannakhet và Salavan nói riêng càng được vun đắp, ngời sáng. 

Phát huy truyền thống đó, trong thời gian tới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Trị cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Savannakhet, Salavan sẽ làm hết sức mình, tiếp tục đổi mới phương thức, nội dung, cơ chế phù hợp trên tất cả các lĩnh vực góp phần cùng với hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam- Lào bảo vệ và nâng quan hệ đặc biệt lên tầm cao mới. 

                                                                         NGUYỄN TRÍ ÁNH

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét